Vai trò của Chất Khoáng

Vai trò của Chất Khoáng

Chất Khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng giữ vai trò trong nhiều chức phận quan trọng đối với cơ thể. Cơ thể người ta có gần 60 nguyên tố hóa học. Một số chất có hàm lượng lớn trong cơ thể được xếp vào nhóm các yếu tố đa lượng (macroelements), số khác có hàm lượng nhỏ được xếp vào nhóm các vi yếu tố (microelements).

Các yếu tố đa lượng là Ca(1,5%), P(L%), Mg(0,05%), K(0,35%), Na(0,15%); Các yếu tố vi lượng là Fe, Cu, Zn, Mn, Co, I, Se… Lượng tro của một người trưởng thành khoảng 2kg tương đương 4% trọng lượng cơ thể. Khoảng một nửa lượng chất khoáng đó là yếu tố tạo hình của các tổ chức xương và tổ chức mềm. Phần còn lại nằm trong các dịch thể.

Hàm lượng các chất khoáng trong các mô không giống nhau. Xương chứa nhiều chất khoáng nhất còn da và mô mỡ chỉ chiếm dưới 0,7%. Một số chất khoáng nằm trong các liên kết hữu cơ như iod trong Thyroxin, sắt trong Hemoglobin, còn phần lớn các khoáng chất đều ở dạng muối. Nhiều loại muối này hòa tan trong nước như Natri Clorua, Calcium Clorua… Nhiều loại khác rất ít tan. Quan trọng nhất là các Calcium Phosphat, Magnesium Phosphat của xương.

1. Vai trò dinh dưỡng của các chất khoáng

Vai trò dinh dưỡng của các chất khoáng trong cơ thể rất đa dạng và phong phú:

– Các muối Phosphat và Carbonat của Calcium, Magnesium là thành phần cấu tạo xương, răng, đặt biệt cần thiết ở trẻ em, phụ nữ nuôi con bằng sữa. Khi thiếu Calcium, xương trở nên xốp, mô liên kết biến đổi. Quá trình này xảy ra ở trẻ em làm xương bị mềm, biến dạng (còi xương). Những thay đổi này trở nên nghiêm trọng khi kèm theo thiếu vitamin D.

– Ngoài ra, Calcium còn tham gia điều hòa quá trình đông máu và giảm tính kích thích thần kinh cơ.

– Chuyển hóa Calcium liên quan chặt chẽ với chuyển hóa Phosphor. Ngoài việc tạo xương, Phosphor còn tham gia tạo các tổ chức mềm (não, cơ ).

– Phosphor là thành phần của một số men quan trọng tham gia chuyển hóa Protein, Lipit, Glucid, hô hấp tế bào và mô, các chức phận của cơ và thần kinh. Ðể đốt cháy các chất hữu cơ trong cơ thể một phân tử hữu cơ đều phải qua giai đoạn liên kết với Phosphor (ATP).

– Ðể duy trì cân bằng áp lực thẩm thấu giữa khu vực trong và ngoài tế bào, cần có sự tham gia của chất khoáng, quan trọng nhất là NaCl và KCl. Natrium còn tham gia vào điều hòa chuyển hóa nước, có ảnh hưởng tới khả năng giữ nước của các protein-keo. Nồng độ Na+ thay đổi dẫn đến cơ thể mất nước hay giữ nước.

– Một số chất khoáng tham gia thành phần một số hợp chất hữu cơ có vai trò đặc biệt. Sắt với Hemoglobin và nhiều men oxy hóa trong hô hấp tế bào, thiếu sắt gây thiếu máu.

– Iod với Thyroxin là hormon của tuyến giáp trạng, thiếu Iod là nguyên nhân bệnh bướu cổ địa phương.

– Cu, Co là các chất tham gia vào quá trình tạo máu.

2. Nguồn chất khoáng trong thực phẩm

Các chất khoáng phân phối không đều trong thức ăn. Các thực phẩm trong đó có tổng lượng các ion K+, Na+, Ca++ Mg++ chiếm ưu thế được coi là nguồn các yếu tố kiềm. Thuộc loại này gồm có phần lớn rau lá, rau củ, quả tươi, sữa và chế phẩm của các thực phẩm này.

Các thực phẩm có tổng lượng các ion âm (S, P) chiếm ưu thế dẫn đến tình trạng toan của cơ thể sau quá trình chuyển hóa được gọi là thức ăn nguồn các yếu tố toan. Thức ăn thuộc loại này gồm có thịt, cá trứng, đậu, ngũ cốc.

Nguồn:Thực phẩm chức năng – sức khỏe bền vững, NXB Khoa Học & Kỹ Thuật.